Năm 1941, Pháp khủng bố các tín đồ tại Toà Thánh. Chúng bắt Đức Hộ Pháp và 5 vị chức sắc đày sang Mã đảo ( madagascar) thuộc Phi châu dưới chiếc tàu Complège vào ngày 27-7-1941.
Đức Hộ Pháp cùng 5 vị chức sắc, khi tới mã đảo bị quản thúc trong trại giam, đến ngày 24-11-1944 mới được thả ra ngoài làm lụng. Khi quân đội Đồng Minh thắng phế trục tướng De Gaulle giải phóng nước Pháp, Đức Ngài mới được đưa về Việt Nam ngày 21-12-1946 .
Những ngày bị lưu đày nơi viễn xứ, Đức Ngài đã được Đức Chí Tôn che chở, an ủi. Một hôm Ngài và Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển phò loan được Đức Tiêu Diêu Đạo sĩ giáng cho bài thi :
Lược chiến từng quen đã bấy lâu
Thiên cơ đã rõ máy cao sâu
Dằn lòng nhẫn nại chờ đôi lúc
Sẽ thấy khuôn linh phép nhiệm mầu
Chào Thiên Tôn và chư vị Thiên Phong, có Đức Nhàn Aâm Đạo Trưởng đến, để bần tăng triệu Thần Hoàng Bổn Cảnh tới gìn giữ cơ .
Nhàn Aâm Đạo sĩ cười ….bần tăng lấy làm cảm xúc cho chư vị dường này. Hận thay cho giống dã man tàn bạo …..Trung quân là Nam Tinh đó vậy. Nơi ấy là hang ổ của Việt kiều Thời cuộc Á Đông sẽ kết cuộc nơi đó.
THI
Quá hãi đôi phen đến viếng nhau
Ngặt không có bút để lời giao
Aân nhân đợi thuở triều linh địa
Chuyển thế gặp thời phải múa đao
Cõi Á đã thành chủng quốc
Phương Aâu sẽ diệt tận nô lao
Lửa hương đất Việt đầu nhen nhúm
Nhờ đám Trung Quân ở nước Tàu
Ít lâu sau cầu cơ, một vị ( phái nữ) giáng không xưng tên mà cho bài thi sau :
Về sau Vô Danh Thị lại giáng cơ và nhủ : Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên Phong. Thiếp vì có mang lịnh đến đây làm bạn bút nghiêng trong lúc chư vị mang lịnh Chí Tôn cho ngơi nghỉ nơi đây, Chí Tôn than rằng : Chức sắc Thiên Phong bên Cửu Trùng Đài thiếu hùng biện văn, tài đặng làm tay quy phục sanh chúng. Vì cớ ấy mà triết Lý đạo khó phổ thông cho toàn thiên hạ
THI
Đã phong trần chịu phong trần
Có thân âu phải biết thương thân
Nam xa ví chẳng vì đường khó
Việt đảng mong chi đượm lửa mừng
Nặng gánh giang sơn là Thương trụ
Nhẹ đay cung kiếm ấy Thường-quân
Ngũ hổ tứ hải không lưu laic.
Năm 1944, các tù nhân được tự do ra ngoài, Đức Hộ Pháp với Khai Pháp Trần Duy Nghĩa cầu cơ, Đức Lý giáng phong cho ông Nguyễn Thế Truyền phẩm Bảo Địa Lý Quân, Nguyễn Thế Sang phẩm Bảo Thượng Quân và Ngô Văn Phiến phẩm Bảo Tinh Quân.
Mặt địa cầu ta vốn định chừng . . . (. . .)
Sau khi giải thích cho Nam xa và Việt đảnh thế nào, Vô Danh Thị lại cho thi .
THI
Hòn đảo này đây trước nhốt tù
Mà nay làm khám khao thầy tu
Quá như oan nghiệt vay rồi trả
Thi lũ Tây man, Nhựt bổn trừ
Vô Danh Thị là ai ? Đó là bà Linh Sơn Thánh Mẫu vâng lịnh Thất Nương Diêu Trì Cung đến viếng các Thánh bị nạn. Dù giấu tên nhưng Đức Hộ Pháp biết được, vì chiếc nhẫn nạm ngọc trên tay ngài phát hào quang khi bà thăng, hạt ngọc này của ông Lễ Sanh Võ Văn Đợi tìm được ở Núi Bà tặng cho Ngài. Nên biết ông Đợi là đệ tử Đức Hộ Pháp học tu tịnh đã chứng ngộ và biết trước được nhiều việc nên Ngài đổi tên Đợi ra Võ Linh Đoán cho trụ trì ở Vạn Pháp Cung để rước các thầy tu nửa lỡ vận.
Bị chiến tranh, Núi Điện điêu tàn, một ít chức sắc xin Đức Hộ Pháp cho rước cốt Bà Đen về Đền Thờ Phật Mẫu, Đức Ngài phê : “Bần Đạo vì thạnh tình lúc bị lưu đày, bà thường đến viếng thăm mà thuận cho”.