Nhân xuống thăm mộ Cửu nương Cao Thị Khiết, các thiên sứ không hẹn mà đã gặp ở từ đường họ Cao liên ngâm, toát lên khẩu khí của bậc lãnh đạo, tiên đoán được thiên chức mai sau của mỗi vị một, ông Ngọc Lịch Nguyệt xướng đầu tiên :
2- Ông Ngô Minh Chiêu
Ta thấu rõ máy trời cơ tạo
Trời cùng Ta một Đạo chí linh
Vô vi sẵn có hữu hình
Hữu hình trong lại vô hình vô danh
Danh có đó mà danh không thiệt
Nhờ không danh mới biết đặng danh
Cổ kim mấy bực chí thành
Không danh mà lại để danh muôn đời
3- Ông Thượng Trung Nhựt
Cùng chung một bầu trời lồng lộng
Không thiên gì cuộc sống cho ai
Chí tâm sẵn có đủ đầy
Muốn thành Tiên, Phật đạo đày phải cam
4- Đức Phạm Hộ Pháp :
Cơ phục thủy biết làm sao tả ?
Mảnh thân này chi xá gian lao
Quyết tâm xây đắp ĐÀI CAO
Muôn dân chung hưởng nước giàu, nhà yên
5- Đức Cao Thượng Phẩm
Đạo vốn tật căn nguyên diện hữu
Phật Tiên xưa nay thành tựu nhờ đây
Chỉ so một cái tâm này
Không thiện, không lệch, không sai không lầm
Cùng tắn biến cao thâm máy tạo
Biến tắc thông là Đạo trưởng thành
Hỡi người sứ mạng lương sanh
Giảm suy diệu lý tạo thành tương lai
6- Ông Cao Triều Phát
Mang một kiếm râu mày nam tử
Nợ vi nhơn phải xử cho tròn
Sá gì chức nghiệp cỏn con
Sao không xây dựng nước non thanh bình ( ?)
Đọc xong sáu bài thi của sáu cao đồ toát lên chí tiến thủ của 6 vị. Ông Ngọc Lịch Nguyệt sẽ trở về với Đạo Phật ở Vĩnh Nguyên Tự. Ông Ngô Minh Chiêu tu theo lối vô vi. Ông Thượng Trung Nhựt muốn thành Tiên ( Giáo tông) sẽ bị nhân sanh khảo đảo. Đức Hộ Pháp hoàn thành xây dựng Toà Thánh (đài cao). Đức Cao Thượng Phẩm xả thân vì Đạo trước tiên. Ông Cao Triều Phát lập Cao Đài cứu quốc (1945) giúp đất nước hòa bình.
Cao Triều Phát ( 1889 – 1956) người Bạc Liêu. Thân sinh là Đốc phủ sứ Cao Minh Thạnh, thân mẫu là bà Tào Thị Súc, gia đình có 6 trai và hai gái. Người em gái thứ chín của ông là Cao Thoại Khiết tức Cửu Nương Diêu Trì Cung ( xem Công Đức Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Nữ Phật).
Ông Phát theo Đạo qua đàn Minh Thiện ( Thủ Dầu Một) của bác sĩ Trương Kế An tức Bảo Y quân Toà Thánh Tây Ninh.
Năm 1941 ông là chủ tịch Cao Đài Mười Hai Phái thống nhất ở Hậu Giang. Năm 1945, ông được bầu làm chủ tịch Cao Đài Mười Một phái hiệp nhất ( không có Toà Thánh TN) tại chùa Minh Tân. Ông lập Thanh Niên Đạo Đức Đoàn tại đây.
Năm 1947 ông được bầu làm Hội Trưởng Cao Đài Cứu quốc Mười một phái hiệp nhứt. Sau hiệp định Genève ( 1954), gia đình ông tập kết ra Bắc. Tháng 1 năm 1955, ông đảm nhiệm vai trò anh cả toàn Đạo miền Bắc, thành lập Cao Đài Cứu Quốc Mười Hai phái hiệp nhất.